Sử dụng GABAB Chất chủ vận (GABA loại B), ADX71441, trong các thử nghiệm tiền lâm sàng đã làm giảm đáng kể lượng rượu. Thuốc làm giảm mạnh động lực uống rượu và các hành vi tìm kiếm rượu.
Axit gamma-aminobutyric (GABA) là chất dẫn truyền thần kinh ức chế chính1. GABA là một trong những chất dẫn truyền thần kinh có tín hiệu bị ảnh hưởng bởi rượu2 và quan trọng là biểu hiện của tác dụng sinh lý của rượu. Khám phá gần đây về cuốn tiểu thuyết GABAB Bộ điều biến dị ứng tích cực của thụ thể (GABA loại B) (một phân tử liên kết với một vùng trên thụ thể bên ngoài vị trí hoạt động để tăng khả năng của các phân tử liên kết với thụ thể, do đó làm tăng hoạt hóa của thụ thể) cho thấy những lợi thế đầy hứa hẹn trong điều trị rượu rối loạn sử dụng1.
GABA loại A (GABAA) thụ thể cũng liên quan đến tác động của rượu lên hệ thần kinh trung ương (CNS) vì ethanol làm tăng hoạt động của GABA tại GABAA thụ3. Điều này được hỗ trợ bởi phát hiện ra rằng benzodiazepine, flumazenil, là một chất điều biến dị ứng âm tính của GABAA thụ thể (một phân tử liên kết với một khu vực trên thụ thể bên ngoài vị trí hoạt động để làm giảm khả năng của các phân tử liên kết với thụ thể, do đó làm giảm hoạt hóa của thụ thể), đảo ngược tác dụng gây say của etanol3. Hơn nữa, flumazenil cũng loại bỏ sự gia tăng gây hấn và buồn ngủ do rượu.3 cho thấy rằng GABAA thụ thể cũng liên quan nhiều đến tác dụng sinh lý của rượu và là mục tiêu hiệu quả để ngăn chặn những thay đổi hành vi do ethanol gây ra.
Vai trò của GABAB thụ thể trong việc sử dụng rượu cũng đã được khám phá, và một GABAB baclofen chủ vận thụ thể đã được phê duyệt để điều trị chứng rối loạn sử dụng rượu trong Pháp1. GABAB chất chủ vận thụ thể gây ra tác dụng chống co giật và giải lo âu, và baclofen được sử dụng để điều trị chứng co cứng1. Baclofen làm giảm động lực tự sử dụng thuốc gây nghiện của loài gặm nhấm, có thể là do tác dụng làm giảm giải phóng morphin, cocaine và dopamine do nicotin gây ra trong nhân acbens.1 nơi giải phóng dopamine gây ra tăng cường các hành vi gây nghiện4. Tuy nhiên, mặc dù GABAB khả năng của baclofen chủ vận để giúp điều trị rối loạn sử dụng rượu1, baclofen có nhiều tác dụng phụ khác nhau như an thần và phát triển khả năng chịu đựng cho thấy rằng GABAB các chất điều biến allosteric dương tính với thụ thể (PAM) có thể xứng đáng với các thử nghiệm để tìm kiếm một loại thuốc có chỉ số điều trị tốt hơn1.
Một cuốn tiểu thuyết GABAB PAM, ADX71441, trong các thử nghiệm trên loài gặm nhấm đã làm giảm đáng kể lượng rượu (lên đến 65% với liều cao nhất là 200mg / kg)1. Thuốc làm giảm mạnh động lực uống rượu và các hành vi tìm kiếm rượu1, cho thấy sự ức chế phản ứng dopamine do rượu gây ra và do đó giảm nghiện. ADX71441 cũng làm giảm đáng kể tình trạng tìm đến rượu do môi trường dự đoán rượu và tiếp xúc với căng thẳng, cho thấy việc sử dụng điều trị trong việc ngăn ngừa tái phát rối loạn do sử dụng rượu vì hơn 50% bệnh nhân tái nghiện chỉ trong 3 tháng.1. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy tính ưu việt của GABAB PAM về mặt hiệu quả đối với các tác dụng phụ. Điều này đảm bảo nghiên cứu và thử nghiệm thêm để đưa ra các loại thuốc mới để điều trị chứng rối loạn sử dụng rượu1 , từ đó giảm tình trạng lạm dụng rượu bia gây gánh nặng lớn cho sức khỏe và kinh tế trên toàn thế giới.
***
Tài liệu tham khảo:
- Eric Augier, Những tiến bộ gần đây về tiềm năng của các bộ điều chỉnh Allosteric tích cực của GABAB Receptor để Điều trị Rối loạn Sử dụng Rượu, Rượu và Nghiện rượu, Tập 56, Số 2, Tháng 2021 năm 139, Trang 148–XNUMX, https://doi.org/10.1093/alcalc/agab003
- Banerjee N. (2014). Chất dẫn truyền thần kinh trong nghiện rượu: Tổng quan về các nghiên cứu sinh học thần kinh và di truyền. Tạp chí di truyền học người Ấn Độ, 20(1), 20 – 31. https://doi.org/10.4103/0971-6866.132750
- Davies M. (2003). Vai trò của các thụ thể GABAA trong việc điều hòa tác động của rượu lên hệ thần kinh trung ương. Tạp chí tâm thần học & khoa học thần kinh: JPN, 28(4), 263 – 274. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC165791/
- Science Direct 2021. Nucleus Accumbens. Có sẵn trên https://www.sciencedirect.com/topics/neuroscience/nucleus-accumbens
***
